Hoa Lan Viet Nam
HÌNH ẢNH & BÀI MỚI   • Hình HL Chu Xuân Cảnh • Hình Sinh hoạt 6-2010 • Hình HL Nguyễn Trường An • Hình Sinh hoạt 5-2010 • Hình HL Phan Thị Phương Lâm • Hình HL Phan Gia Hoàng • Hình Sinh hoạt 3-2010 • Hình HL Lê Đức Thọ • Hình Tiệc Tân Niên Canh Dần • Hình Triển Lãm Tết Canh Dần

Cuối tháng 5 năm 99, chúng tôi một đoàn 40 người đã viếng thăm Trung quốc 16 ngày. Người trọng tuổi nhất trong đoàn, cụ Nguyễn đạt Tôn, đã 82 tuổi, đi một mình không thân nhân theo cùng, kế đến là cụ Quách thị Trà 77 tuổi. Hai cụ tuổi hạc tuy đã cao, nhưng còn đủ sức đi từ đầu đến cuối không thua gì đám người còn trẻ.

Nhờ sự tổ chức chu đáo của A.V. Travel với các cô Simone Nga, Mỹ Ly và ông Trần văn Thắng, chồng cô Nga, là những hướng dẫn viên du lịch đầy kinh nghiệm cùng đi, cho nên chúng tôi đã có một cuộc du ngoạn vui vẻ, thoải mái, thú vị, nếu không kể đến lời phàn nàn rằng thiếu thì giờ shopping và nhiều khi phải chờ đợi một vài người chậm trễ.

Địa điểm đầu tiên chúng tôi thăm viếng là Tử cấm thành tại Bắc kinh, nơi 24 đời vua nhà Minh và nhà Thanh đã đóng đô. Cổ thành Huế chỉ là những gì vay mượn và thu hẹp của Tử cấm thành, từ hình dáng, kích thước cho đến tên các cung điện, cũng Ngọ Môn, cũng Thái hòa v.v... Điều khác biệt là cổ thành Huế không có Thiên an môn nơi đối diện với Ngọ môn khi đó bị cấm vào vì gần tới ngày kỷ niệm 10 năm thảm sát tại đây. Cung điện và chùa chiền tại Trung quốc không khác nhau nhiều về lối kiến trúc từ những cột gỗ cho đến mái cong, tuy nhiên mái ngói dát vàng hay mầu vàng chỉ dành riêng cho cung điện, các nơi khác phải dùng ngói xanh hoặc đỏ.

Trong 3 ngày tại Bắc Kinh, nhờ A.V. Travel đã sắp đặt trước, nên đoàn chúng tôi đã có thêm một hướng dẫn viên địa phương: ông Lương Kiệt người Hải Phòng đã sống tại Bắc Kinh 35 năm. Cũng xin nói thêm là ngoải 3 hướng dẫn viên của A.V. Travel và hướng dẫn viên của từng địa phương, cục Du lịch Trung quốc còn phái một nhân viên theo đoàn chúng tôi suốt thời gian để giải quyết những khó khăn, thắc mắc và để đổi lấy những đồng Mỹ kim yêu quý dù rằng lúc đó Hoa kỳ chẳng đáng yêu chút nào vì vụ oanh tạc lầm tại Nam tư. Nhờ bản tài liệu đối chiếu của A.V. Travel và những hướng dẫn viên gốc Việt tại Bắc kinh,Quảng châu và Hồng Kông chúng tôi không phải lúng túng và ngỡ ngàng với những danh từ xa lạ với lối phát âm quen thuộc với chúng ta từ xưa như Tang = Đường, Yuan = Nguyên, Qing = Thanh, Xixi = Từ Hi, Yue Fei = Nhạc phi v.v…

Ông Kiệt chỉ cho chúng tôi những chiếc vạc khổng lồ rải rác khắp hoàng cung, ông cho biết những chiếc vạc này không phải dùng để trang trí mà để chứa nước cứu hỏa. Một vài chiếc được mạ vàng hãy còn vết dao chém, dấu tích tìm vàng của liên quân Âu châu khi tấn công hoàng cung trong trận chiến tranh nha phiến năm nào. Giữa Ngọ môn và điện Thái Hòa là chiếc sân rộng ở giữa hai bên lối đi có những phiến đá hoa cương chạm khắc hình cửu long biểu tượng của đấng thiên tử, chiều ngang khoảng 2m50, dài đến 15-20m, chiều dầy không rõ, nhưng nặng có thể đến vài chục tấn. Ngoài ra còn có những bệ đá cao lớn trên có con sư tử bằng đồng và hàng ngàn cột trụ, lan can cũng đều bằng đá hoa cương, tôi tự hỏi vào khoảng 500-600 năm về trước với phương tiện thô sơ, đường sá xa xôi, hiểm trở, làm sao người ta có thể vận chuyển nhưng khối đá nặng nề đó đến Bắc kinh được. Ông Kiệt giải thích rằng nếu họ đã tạo được Đại Vận hà, một con kinh đào từ Bắc Kinh đến Hàng châu daì hơn 1000 cây số với sức mạnh của con người, thì chuyện mang những khối đá nặng đó không phải là vấn đề nan giải. Họ đợi đến mùa đông, mặt nước đóng thành băng chỉ cần vài người cũng đủ sức đẩy cả chục tấn. Những bức tường và nền nhà trong hoàng cung xây bằng những viên gạch dính sát vào nhau, không có một chút mạch hồ, cũng được ông Kiệt cho biết thời đó người ta chưa biết đến vôi, cát hoặc xi măng nên phải lãm những viên gạch thật phẳng và dùng cháo gạo nếp để xây, sau này các nhà khảo cổ đã tìm thấy những hạt gạo ở giữa những viên gạch khít khao này.

Nhưng có một vài điều tôi vẫn thắc mắc là suốt một khu vực rộng lớn của ngoại đình bao gồm chung quanh điện Thái hòa, Trung hòa, Bão hòa và ngay cả cung Càn thanh thuộc nội đình đều không có một bóng cây cỏ, toàn là những sân rộng lát gạch, đá và những thềm nhà, bậc gạch trơ trọi. Chẳng lẽ các vị hoàng đế Trung hoa sợ rằng nếu thêm hoa lá cành, quan quân sẽ mải nhìn ngắm mà quên hẳn đấng quân vương tôn kính hay sao? Phía sau hậu đình, vườn thượng uyển tôi vẫn tưởng là đầy rẫy những hoa thơm cỏ lạ, nay chẳng thấy gỉ ngoài mấy cây tùng, bách liên chi, vài cây nguyệt quế, vài khóm mẫu đơn (tree peonies) xưa kia không chịu nở hoa theo lệnh của Từ Hi thái hậu đã bị đầy đi Giang nam mà sao nay vẫn còn đây. Không biết có phải rằng hướng dẫn viên đã không đưa chúng tôi đi hết vườn thượng uyển hay là ngày nay chính phủ nhân dân không đủ tiền chăm sóc đã chán ghét lối chơi hoa vương giả nên không còn giữ nữa.

Tối hôm đó chúng tôi dùng cơm tại một tửu lầu chuyên môn về món vịt Bắc Kinh, theo ông Kiệt loại vịt này được nuôi theo kiểu người Pháp nuôi ngỗng lấy gan làm paté foie gras, tức là họ cột con vịt vào một chỗ không cho đi lại, rồi gắn chiếc phễu vào miệng và lúc nào cũng nhồi thức ăn cho vịt mau lớn và mềm thịt. Sau đó họ dùng than gỗ bồ đào để nướng, cho nên vịt quay Bắc kinh mang một hương vị đặc biệt không thể tìm thấy ở nơi khác. Nhưng tôi nhận thấy vịt quay chính cống Bắc kinh cũng chẳng ngon hơn và khác hơn vịt ở Hồng Kông, Chợ lớn, Tân gia ba, hay Los Angeles là bao.

Ngày hôm sau 23-5-1999 chúng tôi di thăm Vạn lý trường thành tại Bát Đạt Lĩnh. Trên đường đi xe ngừng tại một cửa hàng quốc doanh nơi bán ngọc trai và các sản phẩm cho du khách. Đây là một kế hoạch để thu hút ngoại tệ cho nên du khách bất cứ thăm viếng nơi đâu, hướng dẫn viên địa phương cũng phải đưa tới những cửa hàng quốc doanh bán trà, tơ lụa, đồ gốm, nữ trang v.v… Trạm xe bus tại Bát Đạt Lĩnh có cả ngàn chiếc xe lớn nhỏ chở mỗi ngày hàng chục ngàn du khách ngoại quốc và địa phương chen chân để viếng một kỳ công của người Trung hoa từ trên 2000 năm về trước và để không hổ thẹn với câu: "Bất Đáo Trường Thành Phi Hảo Hán". Mấy năm trước đây, muốn lên trường thành du khách phải leo vài trăm bậc thang, nhưng nay đã có xe kéo trên dây sắt cho nên không cần phải là hảo hán mà các cụ già 70-80 tuổi vẫn chèo tới đỉnh cao 888 thước để mua một cái bằng với giá 1 Mỹ kim làm kỷ niệm. Tuy vậy cũng có nhiều bậc nữ lưu và vài đấng mày râu chưa đến 60 đã ngồi phệt xuống đường than mệt dù hãy còn xa đỉnh núi cả trăm bậc. Từ trên đỉnh 888, nhìn ra 4 phương 8 hướng núi non trùng trùng, điệp điệp, giẫy trường thành quanh co uốn khúc chạy từ phía đông sang phía tây nước Tầu . Tuy là một kỳ công có một không hai trên thế giới nhưng lòng tôi bỗng ngậm ngùi nghĩ đến hàng triệu sinh linh vô tội đã vùi thân nơi núi cao, rừng thẳm để xây thành bảo vệ cho nền quân chủ chuyên chế. Nghĩ xa rồi lại nghĩ gần, Vạn lý trường thành dù có xây dựng bằng xương máu nhân dân khi trước, nhưng nhân dân Trung hoa ngày nay được hưởng những lợi nhuận khổng lồ do kỹ nghệ du lịch mang đến, còn nhân dân Việt nam chúng ta được hưởng những gì sau cuộc chiến tranh 30 năm dai dẳng tàn khốc.

Trước đây tôi cứ nghĩ Vạn lý trường thành do chính Tần thủy hoàng khởi công xây dựng và chỉ dài chừng trên 1000 cây số, nay mới biết là thành đã được xây từ nhiều đời về trước và Tần thủy hoàng chỉ tiếp tục xây thêm và toàn thể trường thành dài khoảng 6200 cây số.

Chiều hôm đó chúng tôi viếng Thập Tam lăng. Khu vực này bao gồm một giẫy núi đồi hùng vĩ vừa thiên tạo lẫn nhân tạo. Có lẽ hầu hết các lăng tẩm của các vua chúa bên Tầu, khi chôn cất xong đều được con cháu đời sau cho người lấp đất che kín như một ngọn đồi khá lớn, có thể lên tới vài trăm mẫu rồi trồng cây lên trên. Sau đó vua quan đãi tiệc và bỏ thuốc độc vào rượu giết hết những người xây mộ và lấp mộ để sau này không ai được biết vị trí và đường vào ngôi mộ ra sao. Chúng tôi chỉ thăm viếng Định lăng tức là mộ vua Minh Thần tông, Chu Dực Quân hay vua Vạn Lịch mà chúng ta thường nghe qua câu:

Đồng tiền Vạn Lịch thích bốn chữ vàng,
Công anh dan díu với nàng đã lâu…


Trên đường vào Thập Tam lăng đầy dẫy những bia đá, voi ngựa và tượng đá. Ông Kiệt cho biết vì tình cờ khi người ta đào đất cho thoát nước vào khu hồ chứa dành cho việc trồng trọt, họ đã tìm được lối vào cổ mộ. Mộ vua Vạn Lịch nằm dưới hầm sâu cách mặt đất chừng 20m. Xuống lần theo 7 hàng bực gạch, mỗi hàng 9 bậc là tới nơi để mấy chiếc hòm gỗ to lớn trong đựng di thể vua Vạn Lịch, phi tần và các đồ nhật dụng, nhưng đây chỉ là những vật được tạo dưng lại vì chỉ mấy giờ sau khi mở cửa, tất cả mọi vật trong khu cổ mộ biến thành tro bụi. Do đó những khu mộ khác cũng như mộ Tần Thủy hoàng đành để nguyên dưới đất, hoặc giả việc khai quật quá tốn kém mà không mang lại lợi ích gì thực tiễn.

Hôm sau chúng tôi đến thăm cung điện mùa hạ hay là Di Hòa Viên cung điện nổi tiếng của Từ Hi thái hậu với diện tích khoảng 290 km² bao gồm hồ nhân tạo Côn Minh và núi Long Thọ do đất đào hồ đắp nên. Trong khu vực này chúng ta đã thấy Trường Lang, một hành lang dài 720m chạy dọc theo bờ hồ, chiếc thuyền cẩm thạch và Thập Thất Khổng kiều, chiếc cầu có 17 lỗ trống trong tập phim bộ kể lại tiểu sử của bà Từ Hi. Sau đó chúng tôi viếng Ung Hòa Cung, một cung điện đã được vua Càn Long tặng cho phật giáo Tây Tạng nên còn có tên là Lạt Ma tự. Trong chùa có tượng phật Di Lặc bằng gỗ trầm hương cao 18 thước và chôn dưới đất 8 thước. Tượng này do đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 7 gửi tặng vua Càn Long vào khoảng năm 1750. Buổi chiều chúng tôi thăm Thiên Đàng là nơi vua tế lễ trời đất, với những kiến trúc hình vuông, hình tròn mà theo người Trung hoa: trời tròn, đất vuông. Chính giữa đàn là một phiến bạch thạch đường kính chừng 60 phân nơi mà ông con trời, Thiên tử tin tưởng đứng ở đó có thể nói chuyện với vua cha ở trên thượng giới. Trước thiên đàng là hoàng cung vũ nơi vua tắm gội, thay quần áo trước khi vào tế lễ với chiếc mái ngói mầu xanh đậm hình chóp nón. Chiếc mái này gồm 243 hàng ngói, người Tầu cho số 9 là số may mắn nhất nên hay dùng với bội số và phân số của số 9 do đó các bậc thềm, hàng đinh đồng đóng trên cánh cửa đều mang ý nghĩa này.Vì vậy 9x9 = 81x3 =243. Điều đặc biệt là mái ngói này trên nhỏ, dưới to tất cả đều 243 hàng, tôi tự hỏi vào thời đó làm sao người ta có thể tính toán và làm những viên ngói cho chính xác được.

Rời Bắc Kinh chúng tôi đến Tây An, hay là Trường An hay Nam Kinh kinh đô của các đời vua kể từ nhà Chu từ năm 1136 trước Thiên chúa giáng sinh cho đến nhà Tần, nhà Hán, nhà Đường cho đến đời hậu Chu 1374 đều đóng đô tại đây. Tại Tây An, ngoài chiếc thành cổ nhất Trung quốc còn có Chùa Từ An, tháp Đại nhạn nơi lưu trú của Đường Tam tạng khi xưa . Hoa thanh trì, suối nước nóng nơi còn dấu tích chiếc bồn tắm của người đẹp Dương Quý Phi và cũng là nơi Tưởng Giới Thạch bị bộ tướng giam giữ vì không chịu hòa đàm với Mao trạch Đông để kháng Nhật. Hầm chôn những tượng binh lính bằng đất trước khu mộ Tần thủy hoàng cũng là một điểm nói lên sự độc ác của ông vua tuy có công thống nhất nước Tầu, nhưng cũng nổi tiếng tàn bạo chẳng kém Mao trạch đông và bè lũ công sản sau này. Chỉ khai quật một phần nhỏ của đám Mã dũng binh trấn thủ phía bắc, người ta đã tìm được cả chục ngàn tượng đất, nếu đào hết 4 phía không biết sẽ là bao nhiêu. Hai chiếc nhà mái vòm như khu chứa những phi cơ khổng lồ B52 dài dằng dặc với những cầu thang cao thấp dẫn du khách đi khắp nơi. Du khách cũng được mời xem phòng chiếu phim vòng tròn quanh tường mô tả cảnh ngày xưa người ta đã làm và chôn tượng đất ra sao. Ngoài sự tàn bạo của đám quân quan, điều đáng chú ý là chiều cao quá khổ của những người thời đó, nhưng đến khi xem mấy tượng đất để trong lồng kính người nào cũng cao từ 1m90 đến trên 2m và hiện nay còn khá nhiều phụ nữ tại Bắc kinh cao khoảng 1m70-1m80.

Tây an đặc biệt hơn cả là có một hý viện, nơi du khách được thưởng thức những món ăn vương giả và vũ khúc Nghê thường của Dương Quý Phi và ông vua nổi tiếng phong lưu Đường Minh hoàng đã lưu truyền cho hậu thế một vũ khúc tuyệt vời do những vũ công yểu điệu, tha thướt và dung nhan nguyệt thẹn hoa nhường trình diễn.

Sau Tây an là Hàng châu, nơi đây vào thế kỷ thứ 13 nhà hàng hải Marco Polo đã dừng chân ghé bến… Tây hồ, tương truyền trước đây nối liền với biển cả. Thắng cảnh tại Hàng châu còn có Lục hòa tháp, một ngọn tháp cổ sáu cạnh, tượng trưng cho 6 sự hòa đồng: thân hòa, ý hòa, khẩu hòa, tâm hòa, lợi hòa, giới hòa. Nếu tất cả mọi người trên thế gian đều thấu hiểu và thực hành những điều này chúng ta sẽ có hòa bình trường cửu và thịnh vượng chung cho toàn thế giới. Ngay dưới chân tháp Lục hòa,sông Tiền đường với chiếc cầu sắt bắc ngang trên dòng nước phẳng lặng, đục ngầu là nơi Thúy kiều đã trầm mình trong áng văn chương bất hủ của thi hào Nguyễn Du.

Hôm sau chúng tôi thăm nhà kỷ niệm đầy bút thiếp của thi sĩ Tô Đông Pha và các danh sĩ nằm bên bờ Tây hồ với bức tượng bằng đá trắng nét mặt ngạo nghễ và có vẻ tây phương. Chỉ tiếc rằng Hán tự không thông cho nên tôi không đọc nổi những áng thi văn tuyệt tác và buổi sáng lại có sương mù cho nên dù có du ngoạn trên thuyền cũng chẳng có thể nào thưởng thức được vẻ đẹp của Tây hồ thập cảnh. Đền thờ Nhạc Phi với bức tranh bà hiền mẫu thích 4 chữ: Tận trung báo quốc trên lưng người con yêu quý. Bên ngoài đền thờ là ngôi mộ và vài bức tượng cụt đầu, dấu vết của cuộc cách mạng văn hóa năm xưa, nhưng co ùđiều lạ lùng là tượng vợ chồng Tần Cối và những gian thần vẫn còn nguyên vẹn. Đồi trà Long Tỉnh làm mọi người nhớ tới những đồi trà Blao và Phú thọ, cũng những cây trà thấp nhỏ xanh tươi bát ngát với những người con gái hái trà, phong cảnh thực là thơ mộng nhưng chỉ tiếc rằng đây không phải là quê hương thân yêu của chúng ta.

Rời Hàng Châu, chúng tôi đến Tô châu bằng xe điện. Tuy rất gần, nhưng không có đường đi thẳng nên phải đi lên Thượng Hải rồi mới vòng trở lại Tô châu, môt thành phố đầy rẫy những kinh đào ngang dọc chằng chịt. Đầu tiên chúng tôi viếng Hàn San tự nổi tiếng vì bài thơ bất hủ Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế:

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô tô thành ngoại Hàn san tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền


Ngày xưa mỗi khi đọc bài thơ này, tôi mường tượng một bức tranh thủy mạc với ngôi chùa Hàn san nằm vắt vẻo trên đỉnh ngọn đồi,cạnh một con sông rộng lớn có xóm chài hiu hắt. Chùa Hàn san ngày nay thấp nhỏ, chẳng ở đỉnh đồi mà nằm ngay sát bên cạnh dòng nước ngang độ 10m có chiếc cầu uốn cong xây bằng gạch mang nét đặc thù của Trung quốc… Còn chữ ô đề và sầu miên chúng ta vẫn tưởng đó là quạ kêu và nỗi sầu nay theo người hướng dẫn bản xứ đó là tên một vài xóm làng cũ, tôi chẳng hiểu anh ta nói có đúng hay không.

Tô châu ngày xưa nổi tiếng về tơ lụa,về những người đẹp giặt lụa bên bờ, về nàng Tây thi và về những trái lê ngon ngọt. Ngày nay tất cả chỉ còn huyền thoại, Tây thi đã trở về với cát bụi, cảnh giặt lụa bên dòng sông cũng chẳng còn. Nghề tầm tang chỉ còn là để trình diễn cho du khách, khung cửi ngày xưa dù có canh tân cũng không thể nào cạnh tranh nổi với kỹ nghệ tơ sợi nhân tạo. Chúng tôi tìm mua một sấp lụa may áo dài cho bà chị mà tìm đỏ con mắt cũng không thấy. Người Tầu bây giờ đều mặc quần áo may sẵn cho rẻ. Mua bán y như lạc vào như mê hồn trận không biêt đâu là đúng giá. Bức tranh trong tiệm quốc doanh đề 1200 nhân dân tệ (8.5 tệ một mỹ kim) hạ xuống 700 cho du khách, nhưng sau khi cò kè bớt một thêm hai còn 350 tệ. Nhưng nếu có thì giờ cũng có thể tìm được bức tranh tương tự ở ngoài phố chỉ giá chỉ còn 100 tệ. Kinh nghiệm cho biết, khi mua nên bắt đầu bằng 1/10 rồi ngưng lại ở 2/10 sẽ ít khi bị hớ. Nếu trả giá không phải là một nghệ thuật quý vị ưa thích, xin hãy vào các thương xá, nơi đây cũng bán giá nhất định nhưng tiếc rằng cả thành phố chỉ có một vài thương xá mà thì giờ lại có hạn.

Chúng tôi sau đó có thăm một số chùa chiền cùng những hoa viên, song đâu cũng đại khái như nhau. Đến Thượng Hải ghé thăm bến Hoàng phố, nơi ngày xưa có chiếc biển: Cấm chó và người da vàng, ngày nay tràn ngâp du khách thập phương. Hướng dẫn viên địa phương chỉ cho chúng tôi những tòa nhà chọc trời ngạo nghễ và cho biết rằng trước khi đổi mới, Thượng Hải chỉ có chừng 30 mà nay đã có gần 1000 chiếc và 90% là của chính phủ, tư nhân chỉ có 10% mà thôi.

Rời Thượng Hải bằng chiếc Boeing 767 mới tinh của hãng hàng không hoa lục với những cô chiêu đãi viên cao trên 1m70 chúng tôi đến Quế Lâm, một thành phố nhỏ nhưng từ khi Tổng thống Nixon đến viếng thắng cảnh Li giang, rồi tiếp theo là Tổng thống Bush, nơi đây trở thành một trung tâm du lịch và là một nguồn lợi chính của thành phố này. Mỗi vị tổng thống Hoa kỳ đến thăm, đều mang cho Quế Lâm một con đường mới,tuy do ngân sách Trung hoa đài thọ và cũng mang tên Trung hoa, nhưng dân chúng vẫn gọi là đường Nixon và đường Bush. Riêng khi ông Clinton tới viếng, không có con đường nào được mở thêm cả, có lẽ vì vụ cô Monica Lewinsky hay là vì không tiền. Cảnh Li giang và động Lô Địch đẹp thì có đẹp song còn thua xa khu núi non và hang động vùng chùa Hương tích và Hạ long của chúng ta. Nhưng tiếc rằng chúng ta không biết khai thác vẻ đẹp thiên nhiên, thiếu phương tiện và để những tệ nạn bành trướng làm nản lòng du khách.

Thăm Quảng Châu, chúng tôi có cơ hội đến viếng Hoàng Hoa Cương nơi liệt sĩ Phạm Hồng Thái yên giấc ngàn thu. Đây chẳng phải là thắng cảnh nhưng là một địa danh lịch sử mà bất cứ một người Việt nam nào còn nặng lòng với quốc gia dân tộc đều ghi nhớ. Theo tôi, chúng ta không cần xem Tây hồ nhưng cần đến Hoàng Hoa Cương và cũng xin ghi thêm một điểm son cho A.V. Travel ở chỗ này.

Theo anh Trương Xinh, hướng dẫn viên người Hoa trước đây đã sinh sống tại Quảng Ninh khi còn thơ ấu, Hoàng Hoa Cương là một ngọn đồi nhỏ, cách thành phố Quảng Châu chừng nửa giờ, trước đây có tên là Hồng Hoa cương. Khi cuộc cách mạng Tân hợi năm 1911 bất thành, trên 100 người bị hành quyết và chôn rải rác khắp nơi. Sau đó ông Trương Đạt Vi, người Hồng Kông mua ngọn đồi và tìm kiếm xác những nhà cách mạng, nhưng chỉ tìm được 72 người. Ông xây đài kỷ niệm và đổi tên thành Hoàng Hoa cương vì đồi này đầy những bông cúc vàng.

Liệt sĩ Phạm Hồng Thái, sau khi ném bom mưu sát Merlin, viên Toàn quyền Đông dương tại Sa Điện không thành, bị trọng thương và bị săn đuổi ráo riết nên đã trầm mình xuống sông Châu giang tự tử vào ngày 15-6-1924. Hồ hán Dân một viên chức cao cấp trong chính phủ cách mạng cảm phục tấm lòng tận trung báo quốc của người liệt sĩ nên bốc mộ và chôn tại Hoàng Hoa Cương vào khoảng năm 1928. Trước đây mộ bia rất sơ sài nhưng năm 1958 chính quyền địa phương đã xây lại mộ phần. Trên xe bus, tôi đề nghị với các bạn đồng hành là không nên đến viếng Hoàng hoa Cương như một du khách, chỉ đến để chụp một vài tấm ảnh, mà nên đến với một lòng ngưỡng mộ biết ơn của kẻ hậu sinh đối với một đấng anh hùng tiền bối đã vị quốc vong thân. Chúng tôi dự tính mua hương hoa và cùng nhau dâng lễ, nhưng đến nơi mới biết vì tránh hỏa hoạn và quy luật không cho phép mang hương hoa, nên chúng tôi đành đến với nén tâm hương và lòng thành kính. Trước lối vào, một cổng chào rộng lớn mang 4 chữ: Hào Khí Trường Tồn, bút tự của nhà cách mạng Tôn Dật Tiên tức Tôn Trung Sơn, người đã khai sinh nền dân chủ cho Trung Hoa quốc gia. Bước lên một hàng bậc gạch cao là một sân rộng rồi mới tới đài kỷ niệm 72 chiến sĩ hy sinh cho cuộc cách mạng Tân Hợi. Lui vào phía trong, bên tay phải là mộ ông Trương Đạt Vi và xuống theo một con dốc nhỏ, mộ phần liệt sĩ Phạm Hồng Thái với một đài cao chừng 4 thước trên mang dòng chữ quốc ngữ: Mộ Liệt sĩ Phạm Hồng Thái sinh năm 14-4-1895, hy sinh ngày 19-6-1924. Phía dưới là ngôi sao 5 cánh và một hàng chữ Hán lớn: Việt Nam Phạm Hồng Thái liệt sĩ chi mộ. Bên phải,hai hàng chữ nhỏ ghi ngày sinh và ngày từ trần. Bên trái cũng hai hàng chữ nhỏ đề: Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Châu 24-3-1958. Theo chương trình, chúng tôi xếp hàng kẻ trước người sau trên bậc thềm chật hẹp. Mở đầu tôi nói vài lời về ý nghĩa của buổi lễ, nhưng vì tính mẫn cảm và già rồi sinh tật cho nên mới chỉ vài câu tôi đã trào tuôn nước mắt và nghẹn giọng nói không nên lời. Cụ Nguyễn Đạt Tôn thay mặt cho toàn thể mọi người đọc một bài thơ cụ vừa cảm tác trên đường đến mộ:

Một trái bom tung, dậy tiếng hùng,
Vì nòi giống Việt diệt thù chung.
Thực dân vạn kiếp kinh hồn vía,
Hào khí trường tồn rạng núi sông.
Liệt sĩ treo cao gương ái quốc,
Hậu sinh quyết nối gót cha ông.
Khấu đầu trước mộ thành tâm khấn:
Xin Phạm tiền nhân chứng giám lòng.


Tôi nhìn lại, chẳng những riêng tôi, cụ Tôn, ông Thắng và nhiều người mắt đã đỏ hoe bùi ngùi thươngtiếc. Qua hàng lan can bên phải, dưới chân mộ liệt sĩ Phạm Hồng Thái còn có một ngôi mộ đất nhỏ với tấm bia đề: Đ.C. Trần Thi mà tôi chỉ nhớ loáng thoáng là mất năm 1964 gì đó. Chúng tôi không rõ người này là ai nhưng đã nằm ở đây thì dù quốc gia hay cộng sản cũng chỉ vì chí hướng mà bỏ thân nơi quê người thật là xót xa và đáng kính phục.

Khách sạn White Swan nơi chúng tôi trú ngụ nằm ngay trên bờ sông Châu giang. Đây là một khách sạn 5 sao sang trọng, mọi cửa sổ đều nhìn ra ngoài sông, ban đêm thuyền bè qua lại, đèn đuốc đủ mầu rực rỡ nhưng vì còn vương vấn nỗi u hoài nên tôi chẳng lòng nào ngắm cảnh. Dân chúng ở đây gọi phía bắc con sông là Hồ Bắc và phía nam là Hồ Nam mà trước đây tôi cứ tưởng là hai tỉnh khác nhau.

Giã từ Quảng châu về Hồng Kông bằng xe lửa đi ngang qua Thẩm quyến, một thành kỹ nghệ do tư bản mới dựng lên với những tòa nhà cao vút và những chung cư phơi đầy quần áo, một đặc điểm của các chung cư Trung quốc. Qua lời của các hướng dẫn viên bản xứ, Trung quốc đang trên đà phát triển nhưng đang gặp nhiều khó khăn trở ngại như sau:

Với dân số hiện hữu 1 tỷ 300 triệu nhà cầm quyền tìm mọi cách giữ ở mức dưới 1 tỉù 600 bằng hạn chế sinh đẻ ngừa thai, phá thai, phạt tiền, đuổi việc v.v… mà vẫn chưa ăn thua cho nên trẻ con bên Tầu rất ít và là những ông hoàng và bà chúa nhỏ trong gia đình. Thêm vào đó là nạn trọng nam khinh nữ cho nên số phụ nữ ngày nay quá ít so với nam giới. Từ ngày đổi chủ, một số lớn đàn ông ở Hồng Kông về đại lục kiếm vợ đẹp và những con gái hoa lục đua nhau đến Hồng Kông để kiếm chồng giầu. Kết quả sở di trú Hồng Kông có cả triệu hồ sơ xin nhập cảnh cho vợ chồng con cái đã từ lâu mà chưa giải quyết nổi vì luật lệ,vì thiếu nhân viên mà càng ngày hồ sơ mới lại chồng chất thêm. Nước Tầu có trên 60 triệu người già ốm không lợi tức con cái không có hoặc không nuôi nổi, dành phải sống tại các viện dưỡng lão do chính quyền trông nom. Khi xưa họ là những cán bộ, sỹ quan của chế độ nên không thể vứt bỏ đi được và trở thành một gánh nặng quá lớn cho chế độ.

Nạn khan hiếm thực phẩm có nguy cơ trầm trọng vì ruộng đất là của chính phủ, nông dân chỉ là người thuê lại cho nên phải nộp 50% hoa mầu cho trung ương 10% cho địa phương, 40% còn lại không bõ công mưa nắng dãi dầu. Lợi tức đồng niên trung bình 400$/năm, còn lợi tức của nông dân chỉ khoảng chừng 200 đồng một năm. Thanh niên lớn lên không muốn đeo đuổi nghề nông mà chỉ muốn làm việc ở các xí nghiệp , nhưng thiếu văn hóa và chuyên môn. Trường học chỉ miễn phí ở bậc tiểu học, lên Trung học phải trả thêm tiền có khi lên tới 3000 Mỹ kim một năm, còn đại học phải trả 10.000$. Riêng đại học sư phạm được miễn phí nhưng phải làm cho chính phủ. Trong quân đội trước kia, sau 10 năm hạ sỹ quan nào không được thăng lên hàng sỹ quan hay sỹ quan cấp úy không lên được cấp tá v.v… đều bị giải ngũ nhưng được làm trong các xí nghiêp quốc doanh thuộc quyền quản trị của quân đội như du lịch, khách sạn, hàng không v.v… Ngày nay nếu bị giải ngũ coi như thất nghiệp và con số này càng ngày càng nhiều.

Dân số các thành phố đều gia tăng kinh khủng, như Bắc kinh 17 triệu, Tây an 16 triệu, Thượng hải 15 triệu. Không đủ ngân khoản mở rộng đô thị, nên đành phải phát triển theo chiều cao gây ra nạn thiếu đường và ứ nghẽn giao thông dù rằng đa số dân chúng đều đi xe đạp, một phương tiện đại chúng nhất. Xe đạp mới giá rất rẻ khoảng 20 Mỹ kim mà lại tiện lợi, từ các ông mặc com lê chững chạc, mấy cô váy ngắn cũn cỡn cho đến người đạp xe ba bánh đều thong dong bên nhau trong khúc đường dành riêng cho xe đạp. Nhưng đến giao lộ không đèn hiệu và cũng không cảnh sát chỉ đường thì thực là hỗn độn, đủ thứ xe vận tải, taxi, du lịch v.v… tự do quẹo trái, quẹo phải, chẳng ai nhường ai nhiều khi kẹt đường rất lâu. Chỉ có cán bộ cao cấp mới có xe hơi vì đại đa số đều ở chung cư làm gì có chỗ để xe gắn máy chứ đừng nói đến xe hơi. Tại Thượng Hải, thuế lưu hành đắt ngang tiền một chiếc xe mới.

Trước kia phi cảng Kaitac tại Hồng Kông quá chật hẹp và tấp nập du thương khách và nên phải xây trường Lantau. Nhưng từ ngày đổi chủ, khách đến thưa hẳn đi, phi cảng mới rộng rãi vắng teo. Chúng tôi rời Hồng Kông buổi sáng, tối hôm đó dân chúng địa phương biểu tình đông đảo để kỷ niệm cuộc đàn áp của sinh viên tại Thiên an môn, đánh dấu một vết nhơ trong lịch sử.

Đi thăm Trung quốc, tôi muốn nhìn thấy tận mắt một nền văn minh cổ kính và những gì thay đổi của một quốc gia đã có gần 5000 năm lịch sử, có nhiều liên hệ với chúng ta. Tôi khâm phục những người ngày xửa ngày xưa đã chế ra những dụng cụ hữu ích cho nhân loại như la bàn, khung cửi, giấy bút, thuốc súng v.v… Nói đến thuốc súng, tôi đã nhìn thấy toàn thiên tiễn trong chuyện kiếm hiệp của 60 năm về trước. Đây là một chiếc hộp trưng bầy tại bảo tàng viện thuộc khu mộ Nam Việt Triệu Văn Vương, Quảng châu. Trong chiếc hộp có chừng chục mũi tên, mỗi chiếc đều có gắn pháo thăng thiên, ngòi pháo quấn vào loại giấy như diêm quẹt ở nắp hộp. Khi mở nắp, pháo cùng cháy một lượt và bắn thẳng ra phía trước. Còn về phong cảnh, Trung hoa quá cổ kính và rộng lớn cho nên với 16 ngày ngắn ngủi chúng tôi chẳng thấy được là bao.

Dù rằng có đi hết nước Tầu chăng nữa, lòng tôi hãy còn nặng với câu chuyện trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp đồng ấu của thập niên 1930. Xin kể lại để các bạn trẻ am tường:

Một người đi du lịch đã nhiều nơi, khi trở về có người hỏi vậy ông cho chỗ nào đẹp hơn cả. Ông ta trả lời:

Không đâu đẹp bằng chốn quê hương của ta cả. Từ con đường đất quanh co cho đến bụi tre cuối làng, đâu đâu cũng gợi cho tôi cảm tình thân yêu chan chứa.

Những điều chúng tôi vừa trình bày ở trên chỉ là những gì mắt thấy tai nghe và nhận định theo cảm quan, trí nhớ và sự hiểu biết giới hạn của người viết. Xin quý vị hãy lượng thứ và bỏ qua những sai lầm, thiếu sót.

Placentia 20/07/1999
BÙI XUÂN ĐÁNG


Bài này được coi: 1945 lần kể từ ngày 21/11/2005
• Hình Mới Ðăng
Bí Quyết gì đây? (84) Thunia H. G. Reichenbach, Bot. Zeitung (... (237)
Paphiopelidum tranlienianum Gruss and Pe... (253) Lan Hoang Dã Phú Quốc (847)
Những cây Vanda có hương thơm (1766) Orchid Flora Of Vietnam: New Discoveries... (444)
Cách chụp tấm ảnh hoa xuân đẹp nhất (852) Một Hoa Lan Dị Dạng (901)
Thanh Đạm Tuyết hạ Coelogyne cumingii Li... (851) Bản Tin Tháng 07-2010 (689)
Lan Hạc Đính Phaius Loureiro (1918) Về sự hiện diện của cây lan Thanh Tuyền... (1366)
Chuyện tháng 6-2010 (792) Tìm thấy loài phong lan nhỏ nhất thế giớ... (1280)
Vy Le and the mysterious orchid (540) Orchid Paintings by Dang Xuan Bui (684)
Cây lan của anh Lê văn Vy (1867) Paul Gripp’s Presentation at The Orange... (587)
Lan Việt trên đất Hoa Kỳ (1400) Hoa Lan và Chu xuân Cảnh (1633)
Cây lan của Lê Mạnh Tuấn (2202) Hoa Lan Việt Nam Du Ký (1833)
Cymbidium Memoria Buu Nghi (Bửu Nghi) (2522) Bản Tin Tháng 06-2010 (1118)
Trở về Đà Lạt (2327) Ban Mê Thuột (1933)
Về miền Trung (1628) Nam Định thành phố lan Tiểu Kiếm (2772)
Câu Lạc Bộ Tràng An (1726) Tình Người Điện Biên (1238)
Hội Hoa lan Hà Đông (2294) Hội Địa lan Thăng Long và chợ Bưởi (2589)
Thơ Nhiều Tác Giả (4004) Mùa Xuân Mới, Cây Lan Mới (2024)
Thơ Phong Lan [2010] (2718) Tháng 5 Hoa Lan Điện Biên Phủ (2523)
Hoa Lan trên những nẻo đường đất nước (3125) Chuyện cây Paphiopedilum canhii (1760)
Bản Tin Tháng 05-2010 (1530) Dendrobium signatum Rchb. f. 1884 (3789)
Chuyển đến: 
Lan Hoa Bí Kíp     
Chiêu số 19:
Nếu bạn đang định trồng cây lan Hồ-Điệp trên một nhánh cây thì cây nhánh cây bưởi là tốt nhất.
Thời Tiết Tại Little Saigon

© 2004 Bản quyền thuộc Hoa Lan Việt Nam [HoaLanVietNam.org]
Xin ghi rõ nguồn hoalanvietnam.org khi bạn lấy thông tin từ website này.
Thiết Kế và Điều Hành bởi Xuong Nguyen
• Email Info: • Email WebMaster:
người đã xem trang này và đã có lượt khách viếng trang web HLVN này từ ngày 1-1-2007