Hoa Lan Viet Nam


Trần Đức Tạo
Kính dâng hương-hồn Song-Thân

Hồi còn nhỏ, ở quê nhà, chúng tôi đã thấy thú chơi Tam-Hường không còn được phổ biến nhiều. Nguyên nhân có lẽ một phần vì chiến tranh, đời sống kham khổ, ít ai còn chơi Tam-Hường, một thú vui nhàn nhã và có phần thanh cao.

Tam Hường, Một Thú Vui Bị Quên LãngVề NGUỒN GỐC Tam-Hường. Thật tình chúng tôi không rõ Tam-Hường xuất hiện từ hồi nào và ở đâu nhưng qua nét chữ thì con bài được ghi bằng chữ Hán. Điều này không có nghĩa Tam-Hường xuất phát từ Trung-Hoa vì các cụ ta ngày xưa đều dùng Hán-tự trong thư văn, câu đối hay trong hoa-văn ở đình chùa. Bài Tam-Cúc, Tứ-Sắc đều dùng chữ Hán cả và có thêm hình vẽ.

Có điều thời ông nội, ông ngoại của tôi từ những năm 1920 đã có chơi Tam-Hường và năm 1951 khi theo thân phụ vào Nha Trang thì chúng tôi đã thấy và biết chơi thú vui này.

Hồi đó, Tam-hường chỉ thấy các cụ lớn tuổi là chơi ăn tiền còn trẻ em chỉ chơi giải trí và tính điểm ăn thua mà thôi. Ít lâu sau, thấy có trò chơi bầu-cua-cá-cọp lại được giới bình dân ưa chuộng. Thật sự, Tam-Hường ai chơi cũng đựợc nếu có thời giờ nhàn rỗi như là vào những ngày Tết, đầu Xuân.

TÊN GỌI: Tam-Hường nghĩa là ba cái hường, màu hoa, màu của mặt 4 của con xúc-xắc.

ĐẶC ĐIỂM:
- Chơi Tam-Hường không cần cao thấp vì chỉ dùng tay đổ 6 hột xúc xắc.
- Khó hoặc không thể chơi gian lận vì lối chơi có tính cách công khai, ai cũng có thể nhìn rõ, kiểm soát kết quả.
- Cách tính kết quả mau lẹ, không có tính cách sát phạt.
- Không cần đắn đo, cân nhắc khi chơi như cờ tướng, tổ tôm, tài bàn, Poker
- Có tính cách vui chơi, giải trí.

QUÂN BÀI (Thẻ):

Một bộ bài Tam-Hường gồm những con bài làm bằng ngà hay xương, gọi là thẻ, thường là màu trắng (hạng sang) hay làm bằng gỗ mỏng có viết chữ Hán theo các học-vị ngày xưa như Tú-Tài, Cử-Nhân, Tiến-Sĩ, Hội-Nguyên, Bảng nhãn, Thám-Hoa, Trạng-Nguyên. Mỗi một học vị được đánh giá bằng một số điểm. Có 6 loại thẻ to nhỏ, hình dáng khác nhau tuỳ theo học-vị để có trị giá khác nhau.

Một bộ Tam-Hường gồm 6 con xúc-xắc và các thẻ giá trị như sau:

Số lượng thẻHình thứcTên gọiTrị giá (điểm)Cộng điểm
1
Cỡ lớn nhấtTrạng-Nguyên
32
32
2
cỡ lớnBảng-nhãn/Thám-Hoa
16
32
4
cỡ trungHội-Nguyên
8
32
8
cỡ nhỏTiến-sĩ
4
32
16
cỡ nhỏ vừaCử-nhân
2
32
32
cỡ nhỏ nhấtTú-Tài
1
32
  
Tổng cộng:
 
192

Do đó, mỗi loại thẻ có tổng số điểm là 32. (1x32)/(2x16)/(4x8)/(8x4)/(16x2)/(32x1). Như vậy, nếu có 6 người chơi thì mổi người phải đủ 32 điểm mới huề (không mua/không bán) hay còn gọi đủ một Trạng. Bộ bài có 6 loại thẻ (6x32) nên tổng cộng là 192 điểm. Nếu 4 nguời chơi thì mỗi người phải đủ 6x32/4 hay 48 điểm hay một trạng rưỡi (32+16=48 điểm). Nếu 3 người chơi thì mỗi nguời phải 2 Trạng hay 32x2 = 64 điểm. Dư điểm thì đem bán có lời. Thiếu điểm thì phải mua cho đủ điểm ấn định. Mua của người dư thẻ đem bán. Nếu đánh ăn tiền thì tuỳ, cho mỗi điểm là 1 hay 2, 3 dolllars hay cao hơn nữa.

CÁCH CHƠI:
Những người chơi thường ngồi trên bàn hay ngồi dưới chiếu. Tuỳ theo số người chơi mà đòi hỏi số điểm mà mỗi người phải hội đủ. Trở lại ví dụ trên, 6 người chơi thì mỗi người phải đủ 32 điểm (192:6=32 hay gọi là 1 Trạng). Nếu 3 người chơi thì mỗi người phải đủ 2 Trạng hay 192:3=64 hay 2 lần 32 (2 Trạng) ....

Trước khi chơi thì một nguời lấy 1 con xúc xắc thả xuống một cái bát (chén) gọi là đổ cái để chọn người chơi trước. Nếu ra số 1 thì người đó là người chơi trước. Nếu ra số 2 thì người bên phải kế mình đổ trước v.v...

Mỗi người lần lượt theo thứ tự đã được bỏ cái chỉ định, nắm gọn 6 con xúc-xắc bỏ xuống cái bát (cái chén) và tuỳ theo sự xuất hiện của những con xúc xắc này mà chọn quân bài tương xứng. Ván bài chấm dứt khi không còn quân bài nào dưới chiếu.

CÁCH TÍNH ĐIỂM:

a- Tính theo con số 4 chấm màu đỏ (hường).
b- Tính theo những con số khác (ngoài số 4) còn lại.

A. Tính theo con số 4 (gọi là Hường)

Nếu 1 con số 4 xuất hiện thì lấy 1 thẻ Tú-Tài (gọi là Nhất Hường); 1 điểm
Nếu 2 con số 4 xuất hiện thì lấy 1 thẻ Cử nhân (gọi là Nhị Hường); 2 điểm
Nếu 3 con số 4 xuất hiện thì lấy 1 thẻ Hội-Nguyên (gọi là Tam Hường); 8 điểm
Nếu 4 con số 4 xuất hiện thì lấy thẻ Trạng nguyên (gọi là Tứ Hường); 32 điểm

(số chấm còn lại trên 2 con Xúc-xắc được coi như số tuổi của Ông Trạng. Nếu sau này ai đổ được Trạng mà có số tuổi lớn hơn thì trạng nhỏ tuổi bị cướp. Ví dụ Trạng của bạn 5 tuổi thì ai có trạng 6 tuổi trở lên sau này sẽ cướp mất trạng của bạn.

Nếu 5 con số 4 xuất hiện (gọi là Ngũ-Hường), thì người đổ sẽ lấy Trạng-Nguyên và hai Trạng Em Bảng-nhãn/Thám-Hoa.

Nếu 6 con số 4 xuất hiện thì cả làng phải chung cho nhà đó gấp hai số điểm ban đầu mình phải có. Ví dụ 6 người chơi, mà một nhà đổ ra 6 con 4 một lúc (gọi là Lục-Hường) thì mỗi nhà phải chung cho người đó 2x32 điểm.

B. Tính theo các số khác (ngoài số 4)

Nếu 6 con xúc-xắc xuất hiện theo thứ tự 123456 thì gọi là SUỐT, ăn Trạng Em (tức Bảng-Nhãn hoặc Thám-Hoa, 16 điểm).

Nếu có 1 cặp 3 con giống nhau thì gọi là Phân-Song, ăn trạng Em. Nếu trong đó có 3 con số đỏ 4 thì gọi là Tam-Hường Phân-song, vừa ăn Tam-Hường vừa ăn Trạng Em (8+16=24 điểm).

Nếu có 4 con cùng giống nhau (ngoài số 4) thì gọi Tứ-Tự, ăn Tiến sĩ, 4 điểm. Trừ trừờng hợp 4 con số 4 thì ăn Trạng-Nguyên (nói trên). Nếu Tứ-Tự mà có thêm 1,2 con số 4 xuất hiện thí gọi Tứ-Tự Nhất-hường hay Tứ-Tự Nhị-hường (ăn 4 điểm của Tứ-tự + 1 hoặc 2 điểm cùa Nhất hường hay nhị hường). Những số còn lại, nếu cộng lại bằng một con số của Tứ-Tự thì gọi là Tứ-Tự-Cáp, ăn Trạng Em (16 điểm).

Nếu có 5 con cùng giống nhau thì gọi Ngũ-Tự, ăn Trạng-Nguyên (32 điểm).

Nếu có 6 con giống nhau (gọi là Lục-Phú) thì những người khác phải chung cho nguời đó đúng số điểm mỗi nhà phải có lúc đầu (32 điểm nếu 6 người chơi tức ăn một lúc 6x32=192 điểm, kể cả điểm của chính mình).

Nếu 3 cặp theo thứ tự 11, 22, 33 (gọi là Nhất Nhị Tam) ăn Trạng Em, 16 điểm. Nếu 44, 55, 66 (gọi Tứ Ngũ Lục) ăn Trạng Em+Nhị Hường (của hai con 4).

Những DU DI khi chơi:

Trên đây là những điều căn bản nhưng cũng tuỳ theo hợp đồng giữa những người chơi mà du di theo ý chung, ví dụ:

- Thay vì tính điểm là 1 đồng thì có thể lả 50 cent hay nhiều ít tuỳ ý cả làng chơi.
- Thay vì chơi 6 người, mỗi người phải đủ 32 điểm để coi huề (không thua/không ăn) thì có thể chơi 7 người; ai thắng Ông Trạng-Nguyên thì đem bán hết phần của mình cho ai thiếu trong 6 người còn lại.
- Nếu chơi lâu quá mà không ai thắng con Trạng-nguyên thì cò thể thay thế đổi bằng hai con trạng Em. Mục đích để cho ván bài mau kết thúc.
- Nếu ai để văng con xúc xắc ra khỏi bát thì kết qủa không được tính mà còn phải phạt bằng cách bỏ một con Tú-Tài (1 điểm) của mình vào số thẻ còn lại của làng.....

Tuy trình bày xem ra dông dài nhưng chỉ ngồi xem chừng 15 phút là biết cách chơi. Số người chơi càng đông càng vui vì ai cũng chăm chú theo dõi kết quả của mình nên hô hoán vang cả nhà. Tiếng kêu lanh lảnh mỗi khi đổ con xúc-xắc xuống chén, làm cho không khí ngày Xuân thêm nhộn nhịp. Con nít ngồi xem chầu rìa. Ai ăn Trạng, khoái chí mừng tuổi thêm cho con cháu. Các bà các cô lo kẹo bánh, trà... đãi cả làng; dĩ nhiên cũng được thưởng cho vui ngày Tết.

TỰ LÀM một bộ Tam-Hường bằng cách dùng các thẻ bằng gỗ khuấy sơn (thẻ lớn) và cây đuôi ice cream (làm thẻ nhỏ). Có thể trang trí cho đẹp và ghi số điểm của mỗi thẻ cho dễ tính. Có thể nhờ ai biết Hán-tự viết giùm chữ Nho cho thêm trịnh trọng. Nếu khéo tay, quý vị có thể tự làm lấy một bộ Tam-Hường dã-chiến chỉ cần ghi số điểm là đủ.

Viết đến đây chúng tôi nhớ đến bộ Tam-Hường bằng ngà của Ông Ngoại để lại, màu trắng muốt, viết chữ son đỏ chói, nhìn thật trang trọng, quý phái. Tiếc rằng thời di cư, tài sản đều bỏ lại, giữ được mạng sống đã là quý lắm rồi.

Viết lại bài Tam-Hường, một thú vui có tính cách văn học, cổ kính, để nhớ lại tổ tiên, cha ông, dù không xung túc về vật chất nhưng vẫn có được một thú vui giải trí thoải mái những dịp Tết đến, Xuân về.

Nếu có điều chi thiếu sót, người viết xin được chỉ bảo để bổ xung.


TAM HƯỜNG, Một Thú Vui bị Quên Lãng II
(bổ-túc)

Kính thưa Quý Vị và Các Bạn,

Khi nhắc lại thú chơi Tam Hường, chúng tôi chỉ sợ một thú vui nhàn nhã và đầm ấm sẽ bị quên lãng với thời gian. Nhưng không ngờ qua điện thư bổ túc của các quý vị và các bạn, chúng tôi lại thấy thú vui này vẫn còn trong các gia đình Việt Nam Hải Ngoại dù không được phổ biến như xưa. Chúng tôi cũng hy vọng thú vui này vẫn còn tồn tại ở Quê Nhà, nhất là các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An cho đến Kinh thành Huế, nơi phong thái cổ kính vẫn còn vương vấn.

Cũng như đã trình bày trong bài trước, khi nói tới phần Du Di trong cuộc chơi, chúng tôi không giám kể ra nhiều luật chơi sợ quý vị độc giả chưa biết chơi đâm hoảng sợ; trò chơi gì phức tạp quá, nhiều điều lệ quá. Điều này cũng dễ hiểu vì những vị chơi lâu, biết luật lệ, đã thuộc lòng nên cho dễ; còn người chưa biết, thấy nhiều chi tiết quá không giám đọc tiếp chứ chưa nói chơi thử. Do đó người viết đã phải trấn an: chỉ ngồi xem vài phút là có thể chơi ngon lành. Về các điều lệ, chúng tôi cũng đã thưa là tuỳ theo mức độ kinh nghiệm chơi lâu mau mà có luật lệ từ dễ đến khó và nhất là có sự đồng ý của cả làng. Xem vậy, Tam Hường lại tôn trọng ý chí chung, một biểu hiệu của Dân-Chủ. Các người tham gia cuộc vui đều bình đẳng: chỉ dùng tay để đổ con xúc xắc. Luật cũng không nói phải đổ xúc xắc như thế nào, miễn sao chỉ đổ một tay và đừng văng hột ra ngoài thì bị phạt. Cách phạt cũng do những người chơi đặt ra ví dụ 1, 2, 3 điểm bỏ lại vào cho Làng. Kết quả mỗi lần ra tay được cả làng chứng kiến, kiểm soát. Tính "trong sáng" được đề cao và tôn trọng. Người chơi chỉ còn tin vào may rủi, hên xui. Đôi khi đổ giáp vòng mà không ra một con "Hường" nào cả. Cũng có lúc cả ba người đều ra "Tam Hường" hay "Tứ Tự". Tết vừa rồi, chúng tôi đã đổ được "Ngũ Hường" và sau đó vài ván lại đổ được "Lục-Phú Cối". Cả làng thua to, lấy cớ buồn ngủ, giải tán cuộc chơi sớm hơn dự trù!!!

Về số người tham dự Tam Hường: thường là 6 để cho dễ tính điểm là chẵn 32. Nếu ba người chơi thì mỗi người hai Trạng (64 điểm). Nhưng có khi cá nhau tay đôi, chỉ hai người chơi, ăn thua không bằng tiền mà bắng Phở. Ai thua phải đãi một chầu, không những đãi đối thủ mà còn cả bạn bè của đối thủ nữa.

Ngược lại ngày Tết ai cũng nghiền đen đỏ nên nhiều tay chơi hơn; có khi 7, 8 người đòi chơi nên phải phá lệ như ai có Trạng thì bán Trạng hay cho Tam Hường cũng được lấy Trạng nếu không còn quân nào khác trong một thời gian khá lâu mà không ra Trạng… Trường họp nhiềư người chơi có cái bất lợi là chờ lâu mới tới lần mình đổ và chẳng may không có điểm nào dễ bị chán nản hoặc trở nên nóng tính, xót xa. Nhưng thay đổi cách nào đi nữa cũng cần phải có sự đồng thuận của toàn thể hay ít nhất của đa số. Nguyên tắc đa số được tôn trọng.

Chúng tôi cũng xin mạn phép đưa ra khía cạnh giáo dục của thú chơi Tam-Hường.

Chúng tôi theo Song Thân vào Nha Trang từ những năm đầu của 1950. Ngày ấy Nha Trang còn xinh xắn, nhỏ gọn và nhất là hiền hòa. Tuy rằng đang chiến tranh nhưng Nha Trang không có những biến động lớn làm xáo trộn quá đáng đời sống dân lành. Dân di cư chưa có nhiều. Số người Bắc ở Nha Trang thời đó chỉ đếm trên đầu ngón tay nên sau có Hội Bắc Kỳ Ái-Hữu (nếu tôi không lầm) và người Huế cũng không nhiều (không kể quân nhân). Và khi ít người thì lại có nhu cầu đoàn tụ nhiều hơn. Các Cụ Trưởng thượng coi các môn giải trí là cách nối kết bằng hữu như đánh Chắn, Tài bàn, Tổ Tôm, Tứ sắc và Tam Hường… Tuy Tam Hường dễ chơi những vẫn giữ được sự trang trọng, tương kính. Chúng tôi không nghe tiếng la lối, to tiếng. Nếu có chăng là trong các giới trẻ trong mấy ngày Tết mà thôi.

Các quân bài đều mang tên các học-vị như Tú-Tài, Cử-Nhân, Tiến Sĩ, Hội Nguyên, Bảng nhãn, Thám Hoa và tột đỉnh là Trạng-Nguyên.

Theo Cụ Dương Quảng Hàm, nước ta có khoa cử từ đời nhà (1009-1225). Nhưng đến đời nhà Trần (1225-1400) mới có các khóa thi thường lệ cho thi Hương và thi Hội. Vua Trần Thái Tôn mở khoa thi Thái-học-Sinh. Năm 1247, Ngài đặt ra Tam Khôi (ba người đỗ đầu thuộc đệ Nhất Giáp) là Trạng-Nguyên, Bảng-Nhãn, Thám Hoa. Năm 1374, Vua Trần Duệ Tôn mở khoa thi Đình (thi ở Sân Vua) lấy Tiến-Sĩ. Năm 1396, vua Trần Thuận Tôn đặt ra thi Hương lấy Cử Nhân. Như vậy các kỳ thi chọn nhân tài ra giúp nước có từ thời và nở rộ vào thời Trần với các qui lệ rõ ràng. Với triều Nguyễn, năm 1822 mở khoá thi Hội đầu tiên và thi Hương vào năm 1807.(1)

Qua chút tài liệu lịch sử trên ta có lý do phần nào tin Tam-Hường là của Việt-Nam thành hình sau thời Trần, dựa vào các học-vị do triều đình đặt ra. Do đó quân bài lớn nhất là Trạng-Nguyên (Trạng Anh), kế đến Bảng-Nhãn, Thám-Hoa (2 trạng Em), sau đó là Hội-Nguyên dành cho Tam-Hường, Tiến-sĩ dành cho Tứ-Tự, Cử-Nhân dành cho Nhị-Hường và Tú-Tài cho Nhất-Hường.

Sự chọn lựa cho thấy mức thang thi cử và văn bằng ban phát. Theo thiển ý, dù là một thú tiêu khiển, nhưng người sáng lập cũng chủ tâm khuyến khích con em trên đường học-vấn: văn bằng cao thì cuơng vị lớn, quyền hành, lương bổng nhiểu. Ngược lại bằng cấp thấp, lương bổng , quyền lợi không bao nhiêu. Ông nội chúng tôi ngày xưa hay nói: các cháu không chịu học thêm thì chỉ có cái "Tú-Tài bẹp". "Bẹp" theo Ông Nội có nghĩa thấp nhất, không khá lên được như "Vi Xuyên có Tú Xương, dở dở lại ương ương, cao lâu thường ăn quỵt, thổ đĩ lại chơi lường", quá tệ. Nhờ Ông nói khich như vậy mà các con cháu mới cố gắng học hành.

Khi chơi Tam-Hường, là một cơ hội tốt để cha mẹ cho con cái biết giá trị của học vấn. Khi chọn những con bài nhỏ chúng ta sẽ thấy các em thất vọng, không vui. Ngược lại khi đổ được những quân bài lớn hơn mặt các em trở nên rạng rỡ. Điều này trong một góc độ nào đó đã khiến con em phải cố gắng học hành. Hồi còn nhỏ ở Đô-Lương hay Nam-Đàn, Vinh (Tỉnh Nghệ-An), chúng tôi thấy các em nhỏ học bài thật to tiếng; to đến nỗi đi ngoài đường có thể nghe thấy.Theo chúng tôi nghĩ các em đang học thuộc lòng một bài văn nào đó hay một bản cửu chương. (Không biết lối học thuộc lòng nay còn ở VN không?) Khi lớn lên, qua trao đổi với bạn bè chúng tôi đưọc biết các em phải học to tiếng để tránh buồn ngủ vì học bằng đèn dầu đậu phụng hay bằng dầu bông, hay có khi bằng lá cây. Học to tiếng như báo hiệu trong thôn xóm có con em đi học làm nở mặt cha mẹ. Một lý do khác nữa là các tỉnh từ Nghệ an cho đến Thừa Thiên là các tỉnh ít ruông nưong, ít màu mỡ, "đất cày lên sỏi đá" nên muốn tiến thân chỉ còn con đường là đi học. Nếu không đỗ đạt thì ít nhất cũng giữ vai trò dạy học. Ngày xưa cha mẹ có tiền đều thích nuôi Ông Đồ , nhất là Ông Đồ Nghệ, để dạy dỗ cho con. Đi học, như quốc Văn Giáo Khoa Thư đã viết: "truớc là đẹp mặt sau là ấm thân". Tam Hường ngoài là một thú vui cũng còn hàm ý một cách cổ suý việc học trong dân gian.

Trong kỳ Tết Nhâm-Thìn vừa rồi, sẵn dịp các cháu được nghỉ, chúng tôi đem Tam-Hường ra rủ các cháu chơi cho vui. Trong bụng nghị thầm, sợ chúng mau chán so với các games trên TV. Không ngờ chúng ham lắm và chỉ đổ vài vòng là chúng hiểu ngay. Chúng còn rõ mắt hơn ông ngoại và dành nhau lấy thẻ giùm cho ông. Tôi hứng chí, chỉ nói tiếng Việt mà chúng cũng hiểu như thường.

Ngày Tết, ngoài sân đốt pháo, trong nhà ông bà, cha mẹ, các con các cháu quây quần bên cỗ Tam-Hường thật không gì vui thú và ấm cúng cho bằng.Vui chơi không phải ăn tiền mà vui vì gây được một không khí xum họp, thân tình mà vì sinh kế cả năm phải xa cách. Con em khi lớn khôn, trưởng thành, chỉ những ngày xum họp trong gia đình như thế mới để lại một ấn tượng xâu xa trong tâm khảm.

Xin chân thành cám ơn quý vị đã góp ý như sau:
- Ngũ Hường được ăn hết 3 Trạng (Trạng Anh và hai Trạng Em). Nếu ai đã có trước cũng bị giật hết, bất kể tuổi.
- Lục phú Hường là lớn nhất, sau tới lục phú thường, rồi mới tới Ngũ-Hường.
- Tên gọi: Tam-Hường có người đọc "Xâm-hường"; "Xâm" phiên âm Hán là Tam, hay "Xám" như trong "Nhất-Nhị-Xám").
- BS Hữu cho biết lối đọc "Suốt Hạ" và "Suốt-Thượng" để chỉ ba cặp 11-22-33 và 44-55-66 nhưng có người đọc là "Nhất-Nhị-Tam" và "Tứ-Ngũ-Lục". Có lẽ là do thói quen hay tùy Vùng. Riêng cặp Tứ-ngũ-lục, ngoài ăn trạng Em, theo lẽ, còn cho ăn thêm Nhị Hường cho cặp 44?

Chúng tôi đang nghĩ làm cách nào thay đổi để có thể chơi Tam-Hường chốn công cộng như kiểu Cờ Tướng tại các hội chợ. Nếu được vậy Tam-Hường sẽ lôi cuốn nhiều người chơi hơn.

Xin kính chúc Quý Vị và Các Bạn một Mùa Xuân Như Ý; một Năm Mới An Lành.


(1) Dương Quảng Hàm, Việt-Nam Văn-Học Sử-Yếu, tr. 80, Sống Mới 1979.

Santa Ana, Mùng Ba Tết Nhâm-Thìn, Jan. 25, 2012


Copyright 2004 © by HoaLanVietNam.org
Nguồn http://www.hoalanvietnam.org.
URL của bài: http://www.hoalanvietnam.org/Article.asp?ID=891
In ngày: 18/05/2013

người đã xem trang này và đã có lượt khách viếng trang web HLVN này từ ngày 1-1-2007